Các Thuật Ngữ Kinh Doanh Trong Shark Tank Việt Nam



 

Angel Investor: Nhà đầu tư  thiên thần ( Tự bỏ tiền, hoặc là kêu gọi đóng góp tạo nên business)





Bounce Rate_ tỉ lệ thoát: Có thể là 1 chỉ số đo lường khách hàng ghé thăm và thoát website hoặc là  tỉ lệ khách hàng rời đi sau khi sử dụng services của cty 


Breakeven: Điển hòa vốn 


Burn Rate: tỷ lệ đốt tiền để tạo ra dòng tiền dương cho bussiness




Capital Investor (Nhà đầu tư tài chính) là những nhà đầu tư chuyên nghiệp, thường quản lý những quỹ đầu tư mạo hiểm.


Convertible Bond (Trái phiếu chuyển đổi) là loại trái phiếu có thể chuyển đổi được thành cổ phiếu (cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu ưu đãi) tại một thời điểm đã xác định trước trong tương lai theo quyết định của chủ sở hữu trái phiếu.

 
Conversion Rate(CR): Tỉ lệ chuyển đổi khách hàng trả tiền/ khách hàng tiềm năng hoặc khách hàng trả tiền / khách hàng ghé thăm(dùng cho marketing online)

 
Caculating Conversion Rate: 5 sales / 50 visitors x 100% = 10% CR

Conversion Rate = 10% 




 

Cost: Chi phí sản xuất

CPA_ Cost Per Action: Chi phí quảng cáo trung bình cho hành động của KH(gửi mail, điện thoại, nhắn mess, mua hàng)


CTR_ Click Through Rate: tỉ lệ người dùng nhấp vào website

 
Convertible Debt / Loan / Notes : Khoản vay chuyển đổi / Trái phiếu chuyển đổi





Còn với bối cảnh giữa nhà đầu tư và startup, một thuật ngữ thường dùng khác là Convertible Debt (Convertible Notes/Loan). Khoản vay chuyển đổi /Trái phiếu chuyển đổi là một dạng Mezzanine (nửa cổ phần, nửa nợ). Nó là một khoản vay có thể convert (chuyển đổi) thành equity (cổ phần) ở một thời điểm trong tương lai. Điều kiện convert và thời điểm convert sẽ do hai bên thỏa thuận. Về bản chất, Convertible Debt cũng tương tự Convertible Bond vậy.

 
Chuẩn discount của Convertible Loan là 20% - 25%

 
→ Trong Luxstay nếu đầu tư dưới dạng trái phiếu/nợ chuyển đổi vào LuxStay, các shark có thể rút tiền ra hoặc chuyển đổi nó thành cổ phần trong LuxStay, tùy theo tình hình kinh doanh và các điều khoản định trước trong hợp đồng với startup này.

 
→ Shark Dzung Nguyễn đề nghị đầu tư vào Việc Có 300.000 USD dạng trái phiếu chuyển đổi được discount 20% cho vòng gọi vốn sau, kèm điều kiện CAP (mức trần giá trị công ty) 2,5 triệu USDqualified round 1 triệu USD trong vòng 12 tháng.

 
CAP (Capped Notes)

 
"Là nhà đầu tư chuyên nghiệp, anh sẽ kiểm soát không để khoản đầu tư của mình bị pha loãng quá khi startup gọi vốn ở vòng sau", Shark Dzung cho biết.

 
CAP là mức trần Pre-money (định giá công ty trước khi nhà đầu tư rót vốn) mà nếu thiếu nó, nhà đầu tư sẽ bị pha loãng cổ phần quá mức mong muốn ở thời điểm chuyển đổi Convertible Notes thành cổ phần.

 
Shark Dzung đưa mức CAP 2,5 triệu USD. Điều này có nghĩa là sau khoản rót Convertible Loan của Shark Dzung, startup có thể tiếp tục huy động các vòng Pre-A or Round A, Pre-money có thể là 2,5 triệu USD, hoặc 5 - 10 triệu USD. Nhưng trong mọi trường hợp, khi chuyển đổi khoản vay thì Pre-money đối với khoản Convertible Loan của Shark Dzung vẫn áp mức trần là 2,5 triệu USD.

 
Mức CAP này sẽ giúp cho nhà đầu tư vào sớm không bị pha loãng cổ phần ở thời điểm chuyển đổi, cho dù công ty phát triển tốt tới đâu.

Giả sử số cổ phần Shark Dungz nhận được là S = 300 / Post_money = 300 / (Pre_money + 300 + X)  _   *X là số vốn gọi được vòng sau *
 

Nếu Pre_money <= CAP:  cổ phần nhận được nhiều hơn nhưng giá trị công ty nhỏ. Và CAP càng nhỏ nhà đầu tư càng có lợi, nhà đầu tư sẽ muốn CAP thấp nhất có thể 
Nếu Pre_money > CAP: Số cổ phần không bị pha loãng(dilute). Nhưng giá trị doanh nghiệp tăng lên.

 
 

VÍ DỤ: Giả sử Viec.co gọi được round sau với số tiền gọi vốn là 700.000 USD, Pre-money thuyết phục được nhà đầu tư ở mức 4 triệu USD.
 

* Trong trường hợp không có CAP (Uncapped Notes): 
Post-money  = (700.000 + 300.000) + 4.000.000 = 5 triệu USD. 

Tỷ lệ cổ phần của Shark Dzung khi convert là: 300.000/5.000.000 * 100% = 6% 
 

* Trường hợp có CAP (Capped Notes): 
Pre-money với riêng số cổ phần chuyển đổi của Shark Dzung ấn định ở mức trần 2,5 triệu USD

Post-money = (700.000 + 300.000) + 2.500.000 = 3,5 triệu USD.
Tỷ lệ cổ phần của Shark Dzung khi convert là: 300.000/3.500.000 * 100% = 8,6% (*) (tăng 2,6 điểm phần trăm so với mức không CAP)

 
(*) Mức cổ phần trên chưa tính discount 20% trong cấu trúc deal này.

 
Trong khi đó, với nhà đầu tư mới, Post-money không có gì thay đổi, vẫn ở mức 5 triệu USD cho nên tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư mới với sẽ là: 700.000/5.000.000 * 100% = 14%

 
Qualified Round

 
Một thuật ngữ khác Shark Dzung dùng trong deal này là Qualified Round ở mức 1 triệu USD - nghĩa là Viec.co phải huy động được vòng tiếp theo ở mức tối thiểu 1 triệu USD (bao gồm 300.000 USD của Shark Dzung), thì số Convertible Loan kia mới convert sang cổ phần.

 
Vì sao Capped Notes phải đi kèm Qualified Round?

 
Để tránh trường hợp Founder team không huy động được vốn mà chỉ bỏ vào 10.000 USD để "thổi" định giá công ty, ví như 10.000 USD mua 0,1% công ty chẳng hạn, định giá công ty lập tức tăng vọt lên 10 triệu USD, dư KPI để ép nhà đầu tư convert sang cổ phần với valuation công ty cao.

 
Debt: Nợ


Direct Sales: Bán hàng trực tiếp, ko qua trung gian 





Down round






Trường hợp giá trị của công ty bị định giá thấp hơn ở vòng gọi vốn trước. Đó có thể là trường hợp công ty chào bán thêm cổ phiếu với mức giá thấp hơn so với mức giá đã được chào bán ở vòng trước. Có thể do không thành công, hay do không cạnh tranh, hay những nhà đầu tư trước định giá quá cao. Thường những trường hợp này xảy ra là do nhà đâu tư trước bỏ một số tiền rất nhỏ nên có thể định giá công ty quá cao.


Due Dil (Due Delligence): quá trình thẩm định doanh nghiệp, nhà đầu tư xem xét, đánh giá lại thông tin, tình hình tài chính của startup trước khi ra quyết định đầu tư như đã cam kết.


Entrepreneur: Người khởi nghiệp

 
Equity / Equity Stake / Stake 

 
Cổ phần

“Hello, Sharks, my name is Brian Tracy, and today I’m seeking for $200.000 in exchange for 10% equity (stake) of my company”.
 

Exit
 

Exit _ Thoái vốn. Đây là thời điểm nhà đầu tư (thường là nhà đầu tư mạo hiểm) bán cổ phần của mình trong công ty để thu về lợi nhuận (hoặc có thể là thua lỗ). Quá trình này đã được lên kế hoạch tại thời điểm nhà đầu tư quyết định rón vốn và có thể đưa vào kế hoạch tổng thể của công ty. Đó là chiến lược thoái vốn, bạn có thể tự định cho mình một thời điểm thoái vốn sau khoảng bao nhiêu năm, hoặc sau khi đã kiếm được bao nhiêu lợi nhuận, hoặc cũng có thể là thua lỗ bao nhiêu, tùy điều kiện nào đến trước. Khi thoái vốn, nếu Cty đã IPO thì khá đơn giản để tìm người bán lại cổ phần, nhưng nếu chưa thì bạn cần phải tìm được người mua lại số cổ phần đó, chứ khi đầu tư không có khái niệm bỏ ngang hay tương tự, đó cũng là lí do khi đầu tư, nếu muốn exit thì nhà đầu tư thường có cam kết exit, để chắc chắn CEO của cty sẽ mua lại cổ phần đó.
 

Round Exiting: là giai đoạn các nhà đầu tư sẽ rút vốn khi doanh nghiệp đã đủ cứng cáp và trưởng thành. Giá trị thoái vốn sẽ tùy vào sự thỏa thuận của Founder và Investor.
 

ESOP 
 






ESOP (Employee Stock Ownership Plan) là kế hoạch thực hiện quyền sở hữu cổ phần cho người lao động. ESOP là phương thức công ty áp dụng để từng cá nhân làm việc trong công ty đều có thể sở hữu cổ phiếu của công ty. Có nhiều cách khác nhau để người lao động có được cổ phần của doanh nghiệp: thưởng, mua trực tiếp từ công ty, hoặc thông qua ESOP.

Mục tiêu của ESOP là thưởng và động viên đội ngũ nhân viên trong công ty. Trong nhiều trường hợp, ESOP là phần thưởng được trao cho các nhân viên xứng đáng và người nhân viên được sở hữu ESOP mà không phải trả bất kỳ khoản tiền nào cho công ty. Một cách dễ hiểu hơn, cổ phiếu ESOP như một sợi dây ràng buộc, giữ chân người lao động, tạo ra sự gắn và kết từ đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh khởi sắc hơn trong tương lai.
 

Một lợi ích của ESOP nữa là khoản lợi về thuế TNCN. Theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân, khi nhân viên bán cổ phiếu được thưởng sẽ chỉ phải nộp thuế 0,1% trên giá trị chuyển nhượng. Nếu so sánh với mức thuế thu nhập cá nhân có thể phải nộp nếu nhận được thưởng bằng tiền mặt là khoảng 120 triệu đồng thì với phương án thưởng bằng ESOP này, nhân viên có lợi về thuế hơn rất nhiều.
 

Đây cũng là cách các doanh nghiệp, sử dụng nguồn lợi nhuận để phát hành cổ phiếu, ko phải chi trả thưởng ngay, tăng vốn điều lệ cho công ty và giữ lại tiền để tái đầu tư. 
 

Ban đầu shark Việt offer đầu tư 1 triệu USD cho 5% cổ phần, tức post-money evaluation là 20 triệu USD, và pre-money evaluation là 19 triệu USD. Tuy nhiên, shark Dũng muốn giữ định giá pre-money của LuxStay ở mức 20 triệu USD, và vẫn muốn nhận 1 triệu USD đầu tư. Khi đó, giá trị post-money của LuxStay là 21 triệu USD, và cổ phần của shark Việt là khoảng 4,8%.
Để đảm bảo con số cổ phần 5% cho shark Việt, shark Dũng đề xuất áp dụng ESOP để shark Việt có thêm 0,2% cố phần nữa.

 
Funding: Gọi vốn _ Khi không còn đủ vốn duy trì và phát triển ý tưởng, các startup phải kêu gọi vốn (qua các vòng khác nhau) từ các nhà đầu tư.


GMV_ Gross Merchandise Value: Tổng giá trị giao dịch / Tổng giá trị tiền hàng bán đc trên 1 nền tảng online 


Hệ số P/E: Market Price / Earning Per Share - EPS _ (Giá cổ phiếu trên thị trường / Lợi nhuận thu về trên mỗi cổ phiếu ) . P/E càng thấp thì có 2 khả năng là P thấp hoặc E cao. Thông thường là E cao và điều đó chứng tỏ cty đang có chỉ số tốt. Nhưng đôi khi đó là do cty đang gặp vấn đề tài chính, kinh doanh và cổ phiếu đang đc định giá ở mức thấp 


Influencer marketing: Marketing sử dụng những người có sức ảnh hưởng _ Sơn Tùng vs Bitis's / Luxstay






Inventory: Lượng hàng tồn kho


KOL: Key Option Leader: NhNhuwngx người có tầm ảnh hưởng trong 1 lĩnh vực nào đó.


KPI _ là viết tắt của Key Performance Indicator, là chỉ số đánh giá hiệu quả công việc dùng để đo lường mức độ hiệu quả trong công việc của một công ty, một nhân viên dựa trên mục tiêu kinh doanh đã đề ra.


Market size: Dung lượng thị trường, tổng nhu cầu thị trường

Một trong những lí do công ty phát hành trái phiếu chuyển đổi là để đưa ra một lựa chọn an toàn hơn cho các nhà đầu tư vào công ty: Một nhà đầu tư trái phiếu chuyển đổi có thể lấy lại được số tiền gốc nếu như công ty thất bại, cũng có thể hưởng lợi từ việc chuyển đổi trái phiếu thành cổ phần nếu công ty thành công.
Người khởi nghiệp

MVP - Minimum Viable Product là sản phẩm khả dụng. Trong việc phát triển phần mềm, đây là phiên bản rút gọn của một ứng dụng. Thường thì sản phẩm này được phát hành trước khi tung ra sản phẩm ứng dụng chính thức. Đặc điểm của sản phẩm khả dụng là có đầy đủ các tính năng tối thiểu cho người dùng.

OEM: Original Equipment Manufacturing _  Mô hình nhà sản xuất thiết bị gốc





Paten:  Quyền sở hữ công nghiệp 

 
Patent tạm hiểu là Quyền sở hữu công nghiệp. Nếu một sản phẩm được “patented”, điều đó có nghĩa không một công ty nào khác (ít nhất là ở Mỹ) được phép bắt chước, tạo các sản phẩm có chức năng/kiểu dáng tương tự (phụ thuộc vào loại patent).

 
Bạn cũng sẽ bắt gặp thuật ngữ “patent pending” trong Shark Tank. Việc nộp đơn và có được Quyền sở hữu công nghiệp không hề đơn giản, và quá trình xin quyền sở hữu có thể kéo dài cả năm trời. Nếu một sản phẩm đang được “patent pending”, điều đó có nghĩa người phát minh ra sản phẩm đã nộp đơn lên cơ quan Sở hữu trí tuệ, và đơn đang được xem xét/ xử lý, tuy nhiên quyền sở hữu trí tuệ sản phẩm vẫn chưa chính thức được công nhận.

 
Packaging cost: Phí đóng gói


Piching (Thuyết trình): Startup phải trình bày như thế nào để thu hút sự chú ý của nhà đầu tư và họ cảm thấy mình sẽ được những lợi ích gì khi đầu tư phát triển dự án này.


Price: Giá sản phẩm


Production Cost: Giá làm sản phẩm


Profit Margin: Biên lợi nhuận


Purchase order_PO: Đơn đặt hàng(các startup thường khoe đang có hoặc các nhà đầu tư sẵn sàng "fund" các "purchase order")

 
Post money: định giá bussiness hiện tại/ sau đầu tư 

 
Pre-money: định giá trước đầu tư 

 






TẠI SAO LÀ PRE-MONEY CHỨ KHÔNG PHẢI POST-MONEY?

Khi xem các Shark ra offer hoặc tính toán giá trị công ty, chúng ta thường thấy nhắc đến từ Pre-Money value: Giá trị doanh nghiệp trước khi nhận vốn.
Đó là vì các Shark thường đưa ra số tiền khác nhau cho tỷ lệ phần trăm khác nhau. Nghe thì tưởng là giống nhau, nhưng giá trị công ty trước khi có Shark (Pre-money) lại khác nhau hoàn toàn.

Ví dụ:
Shark A: đề nghị 10 tỷ cho 20%

Shark B (lên gối): 20 tỷ cho 40%
Nghe đều giống nhau (vì post-money đều là 50 tỷ)

Nhưng Shark A định giá pre-money là (10:0.2)-10 = 40 tỷ
Còn Shark B định giá pre-money là (20:0.4)-20= 30 tỷ, thấp hơn hẳn 10 tỷ.

Vậy tỷ lệ đúng mà Shark B nhận được mà không làm downsize (mất giá) so với Shark A là: 20:(40+20) = 33,3% 
Hoặc muốn nhận được 40%, thì Shark B phải xuống 26,67 tỷ (chứ không phải 20 tỷ như đề nghị).

Các bạn nhận thấy sự khác biệt chưa?
( Một ví dụ là Printgo, khi Shark Dungz đề nghị 1 tỷ cho 10% nhưng Shark Hưng lên gối, 4 tỷ cho 40%)

 
Post-money valuation = Pre-money valuation + New funding

 
Cổ phần chia cho người đầu tư = New funding/Post-money valuation.

 
Để nhận đầu tư không down round:

 
Gọi số tiền muốn đầu tư là X : => Số cổ phần nhận được là S = X / (X + Pre_money)

Muốn nhận được số cổ phần S: => Số tiền cần bỏ ra là X = S%*Pre / (100-S%).
 

VD: Như ví dụ trên 
Muốn đầu tư 20 tỷ => số cp nhận được là : S = 20 / (20 +40) = 33,33%

Muốn nhận 30% cp => số tiền cần đầu tư là: X = 30*40 / 70 = 17,1 tỷ .
 


Primary Shares and Secondary Shares

 
Cổ phần mới (Primary Shares) là cổ phần có được từ việc mua lại những cổ phiếu lần đầu được phát hành ra công chúng bởi các công ty. Công ty chào bán sẽ có thêm vốn để phát triển hay mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình.

Cổ phần hiện hữu (Secondary Shares) là cổ phần có được từ việc mua lại cổ phiếu đã được mua bởi những nhà đầu tư khác. Do dòng tiền trong trường hợp này luân chuyển qua lại giữa các nhà đầu tư, nên tổng vốn của công ty không tăng lên.
 

→ Trong màn gọi vốn của Luxstay có offer của Shark Thủy yêu cầu “500.000 USD cho 2,9% cổ phần hiện hữu, và 500.000 USD cho 2,27% cổ phần mới”. Offer này có nghĩa, 500.000 USD đầu tiên mà Shark Thủy rót là để mua lại 2,9% cổ phần hiện hữu từ các nhà đầu tư của LuxStay, và không làm tăng tổng vốn của LuxStay. Còn 500.000 USD còn lại sẽ được dùng để mua 2,27% cổ phần mới của LuxStay trong vòng gọi vốn tiếp theo, và đồng thời cũng khiến tổng vốn của LuxStay tăng thêm 500.000 USD.
 

Preferred Stock (Cổ phần ưu đãi)



 




Cổ phần ưu đãi (preferred stock) là chứng khoán tài chính do công ty cp phát hành cho các cá nhân hay định chế đầu tư để gọi vốn dài hạn. 

Cổ phần ưu đãi cho phép người nắm giữ sở hữu những quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông phổ thông. Thường dùng để chào mời các cổ đông/nhà đầu tư tiềm năng góp vốn.
 

Các loại cổ phần ưu đãi chính bao gồm:
 

 Cổ phần đãi biểu quyết: Cổ phiếu này có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu thường. Số phiếu biểu quyết của một cổ phiếu sẽ được quy định bởi điều lệ công ty. Tuy nhiên, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 3 năm, sau thời hạn này thì sẽ chuyển thành cổ phần phổ thông.
 

 Cổ phần ưu đãi cổ tức: Nếu sở hữu cổ phiếu trên thì bạn sẽ được trả cổ tức cao hơn mức cổ tức của cổ phiếu thường. Tuy nhiên, người sở hữu cổ phiếu ưu đãi cổ tức sẽ không có quyền biểu quyết hay đề cử người vào Hội đồng quản trị của công ty.
 

 Cổ phần ưu đãi hoàn lại: Công ty sẽ hoàn lại vốn góp vào bất kỳ thời điểm nào một khi có yêu cầu của người sở hữu cổ phiếu này hay theo điều kiện ghi trên cổ phiếu. Cổ đông có cổ phiếu ưu đãi hoàn lại cũng có các quyền như cổ đông phổ thông nhưng sẽ không được biểu quyết, dự họp hay đề cử người vào Hội đồng quản trị.
 

Ngoài ra có thể sẽ có những loại cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.
 

 
Quyền Mua

 



Quyền mua cổ phiếu là quyền dành cho các cổ đông mua một số lượng cổ phiếu nhất định với mức giá thấp hơn giá hiện hành trên thị trường của cổ phiếu đó. Trong giai đoạn quyền mua chưa được thực hiện, quyền mua có thể được giao dịch trên thị trường thứ cấp. 

 
 

Trong thương vụ Luxstay cả 3 shark đều yêu cầu “1 triệu USD quyền mua cổ phần mới ở vòng sau với giá discount 20%” trong offer của mình.
→ Như vậy, với yêu cầu "1 triệu USD quyền mua cổ phần mới ở vòng sau với giá discount 20%", các shark sẽ có quyền mua cổ phần của LuxStay ở vòng sau với giá thấp hơn 20% so với các nhà đầu tư khác.

 
Retail Price: Giá bán lẻ


Revenue: Doanh thu


Royalties(Phí trung thành) là điều mà các “cá mập” có thể đề nghị. Phí này thường xuất hiện trong các thương vụ nhượng quyền nhưng chữ “nhượng quyền” không mô tả chính xác bản chất của loại phí này. Nói đơn giản, đây là một loại phí mà doanh nghiệp sẽ trả theo phần trăm (%) hoặc mức cố định cho mỗi một đơn vị hàng hóa được bán.


Sales: Doanh số


Shipping cost: Phí giao hàng


SME: Small and Medium-sized Enterprises _ Doanh nghiệp vừa và nhỏ






Stock: Cổ phiếu


Strategic Investor (Nhà đầu tư chiến lược) là nhà đầu tư tài chính và cùng làm việc với Startup để hỗ trợ cho các Startup rất nhiều trong quá trình phát triển công ty.


Valuation: giá trị bằng tiền của một công ty 


Wholesale price: Giá sỉ 

 
1. Pre-seed Round; là giai đoạn khi các ý tưởng, kế hoạch thực hiện được đưa ra và công ty mới thành lập. Các Founder sẽ rót vốn vào để doanh nghiệp có thể đi vào hoạt động gọi là Boostrapping.


2. Seed Round (Vòng hạt giống) là khi các Startup kêu gọi và nhận vốn đầu tư từ nhà đầu tư thiên thần.


3. Angel Investor (Nhà đầu tư thiên thần) là những nhà đầu tư có số vốn nhỏ, thường là những nhà đầu tư cá nhân và thân quen với bạn như gia đình, bạn bè, người thân,...


4. Serial Rounds (Vòng cấp vốn): Ví dụ: Serial A, B, C,…

4a. Series A: là thời gian các công ty đã có sự phát triển nhanh chóng về mặt doanh thu, thị trường, quy mô doanh nghiệp...
Vòng gọi vốn Seri A: Gọi vốn tối ưu hóa ( khi kinh doanh đã cho thấy 1 số dữ liệu nhất định) . Sau khi việc kinh doanh đã cho thấy một số dữ liệu nhất định, Gọi vốn Serie A bắt đầu, hữu ích việc tối ưu hóa sản phẩm và cơ sở người dùng. Trong vòng này, điều quan trọng là phải có kế hoạch phát triển một mô hình kinh doanh sẽ tạo ra lợi nhuận lâu dài.

4b. Series B, C,…là các vòng cấp vốn Series B, C sẽ giúp doanh nghiệp tăng trưởng, chiếm lĩnh thị phần. Thông thường tùy vào loại hình, sản phẩm – dịch vụ của doanh nghiệp mà các Co-founder sẽ cân nhắc gọi vốn ở vòng này.
 

Vòng Serie B là để xây dựng. Series B nghĩa là Build - xây dựng tất cả về việc đưa doanh nghiệp lên cấp độ tiếp theo, vượt qua giai đoạn phát triển bằng cách mở rộng thị trường. Trong Serie B, các nhà đầu tư mạo hiểm có tầm nhìn xa hơn về tương lai của công ty.
 

Vòng gọi vốn Serie C là quy mô. Trong vòng gọi vốn C, các nhà đầu tư bơm vốn vào các doanh nghiệp nay đã thành công, với tham vọng nhận lại được gấp đôi số tiền đầu tư.

 


 
 

 
 

 

Recommendations

Previous
Next Post »
0 Komentar